Tác giả: Hà Quang Minh
Mấy ngày gần đây, trên các hội nhóm của những người yêu Rock, yêu indie, những người nghe nhạc thế hệ “cũ” (tạm thời xem như cứ 8x trở về trước là chúng ta cùng “cũ” như nhau vậy)…, câu chuyện Sáu-Chữ-Cái trở nên râm ran lạ thường. QVTHXV - Quái vật tí hon 15 - sáu chữ cái ấy như một cú nổ nhỏ xoáy thẳng vào lòng người một hố sâu trông đợi.
Hải bột thì thực ra đã trở lại rồi, khoảng 3 năm trở lại đây, với những đêm diễn đây đó. Nhưng Quái vật tí hon thì chưa. Bây giờ, giữa những thời thượng “công-xe” (concert) của những anh tài với tinh vân, Quái vật tí hon chính thức trở lại đánh dấu 15, tuổi của album Đường về nhưng thực ra, ý nghĩa còn lớn lao hơn nhiều. Đó cũng là tuổi của một dấu mốc cho một “điều ngọt ngào hôm qua”, thứ đã tạo niềm hứng khởi cho rất nhiều người trẻ tạo nên “điều kỳ diệu hôm nay” cho nhạc nhẹ Việt Nam đầu thế kỷ 21.
Và tôi, một người có diễm phúc được chiêm ngưỡng, được trải qua cả “điều kỳ diệu hôm nay” lẫn “điều ngọt ngào hôm qua”, không thể không viết vài dòng vụn về QVTH, về Hải Bột, về Đường về cho dù những công việc vất vả của đời sống mưu sinh đầy nhọc nhằn đã không còn cho tôi nhiều thời gian để viết nữa.
1: Bạn cũ
Một chiều cuối tháng Chín, Sài Gòn cao điểm mùa mưa, tôi ngồi bù đầu trong văn phòng, trước màn hình đầy những con số phiền toái và mang nhiều lo âu. Tiếng chuông báo vang lên, một tin nhắn của anh Nguyễn Hồng Long (mà tôi sẽ gọi là Long bass) hiện ra. “Minh à. Có cái này anh phải nói với em. Kẻo sau này em lại không phải là người được biết trước nhất”. Liền sau đó là tấm ảnh Long bass chụp cùng Bột trong phòng tập. “Yeah, tin tốt nhất ngày hôm nay”, tôi chỉ có thể trả lời được như thế. Sau đó là những tràng giang giữa hai phía và chốt lại là một cuộc hẹn nhậu với đầy đủ đội hình của QVTH hôm nay.
Long bass là người tôi chơi sớm nhất trong số các thành viên QVTH. Chúng tôi quen nhau từ đầu thập niên 90, ở Hà Nội, khi tôi còn là cậu học sinh PTTH còn anh Long mới vào đại học. Ở quán bà Bích (mà sau này giới trẻ HN gọi là quán Đinh), chúng tôi cùng chơi chung trong một nhóm khá lớn (vẫn gọi là Liên quân) gồm sinh viên nhiều trường khác nhau. Lũ chúng tôi là trẻ con nhất, được các anh lớn hơn dung nạp, và đi theo các anh cả quãng đường tuổi trẻ của mình. Tôi còn nhớ, hồi đó anh Long rất đẹp trai với mái tóc hơi dài dài kiểu hippie. Trong đội ấy, có lẽ anh Long và anh Thắng “băm” là đẹp trai nhất. Tôi biết anh Long chơi đàn từ thuở ấy nhưng chẳng bao giờ nghĩ có một ngày anh sẽ chơi trong band nhạc. Cuối cùng, anh lại là một mảnh ghép của QVTH với Đường về xứng đáng là ‘album huyền thoại’ của indie Việt. Sau này, hai anh em cùng sống ở Sài Gòn và mỗi lần gặp nhau, câu chuyện của chúng tôi cũng chỉ quay về đúng một đề tài: Âm nhạc, QVTH và thằng Bột.
Minh “Thị nở” (tay trống của QVTH) thì tôi chơi sau này, đâu đó cỡ 2004-2005. Hồi đó tôi hay lên Yoko chơi. Minh thì chưa mở chuỗi Acoustic bar. Chúng tôi vẫn lêu hêu với nhau sau mỗi đêm Minh, Hưng, anh Phương Yoko, anh Phúc, anh Tuấn, Lủng anh… diễn ở Yoko. Rồi Acoustic ra đời, Minh cũng bận rộn hơn với công việc kinh doanh. Thêm phần Hưng sang Mỹ định cư, band Little wing của họ gần như không thể tồn tại được nữa, nên tôi cũng không nghĩ Minh sẽ dành thời gian chơi nhạc. Cũng nhiều người trong thế hệ ấy rời bỏ cây đàn khi bận rộn hơn những nhịp sống khác có thể nuôi thân tốt hơn. Thế rồi trong một ngày đầu năm 2012, tôi bất ngờ khi lại thấy Minh trên bộ trống, trong đêm QVTH nhận giải thưởng Cống hiến. Tôi đã thầm nghĩ khi đó “à, bạn mình cũng đã có nơi chốn để về”.
Nhưng cái “nơi chốn để về” ấy, tức là band nhạc QVTH, cũng một ngày không còn tồn tại nữa. Tôi với Minh thi thoảng vẫn gặp nhau, ở những địa điểm khác, bối cảnh khác và tuyệt nhiên chúng tôi không nhắc gì về QVTH. Nhắc lại tôi thấy buồn mà cũng sợ bạn tôi buồn.
Giờ thì cái “nơi chốn để về” kia đã được tái hiện lại, trong một cuối năm của 15 năm sau. Những người cũ như anh Phúc guitar (không hiểu lý do gì) chưa thể quay lại lúc này nhưng cũng có một người mới mà cũ. Quân guitar, trẻ trung, điển trai, người được Long bass dắt ra giới thiệu với tôi ở buổi hẹn cùng band nhạc đêm đó, là người mới nhưng với tôi lại có đôi chút cũ. Hoá ra, Quân là cháu ruột của một người bạn học từng chung lớp với tôi từ lớp 2 cho tới lớp 10. Tôi cũng biết ba mẹ của Quân và cu cậu đã ngạc nhiên thốt lên “ôi, anh biết hết cả lai lịch nhà em”. Tôi chưa nghe Quân chơi đàn bao giờ nhưng tôi tin là sẽ rất hợp chất QVTH vì bản thân Bột là thằng khá kỹ tính khi chọn người chơi nhạc cùng. Tôi cũng chỉ gặp Quân mới một lần đầu nhưng tôi thích nó. Ít ra, nó còn gọi tôi là “anh” chứ không phải là “chú” như nhiều người cùng trang lứa nó. Được trẻ, thế là quá mãn nguyện rồi.
Và còn một người khác nữa không thể không nhắc tới. Đó là đạo diễn Cao Trung Hiếu, mà tôi hay gọi là Lủng em. Hiếu là em ruột của Lủng anh, tay trống của Microwave, band nhạc đầu đời của Bột. Lủng anh và Bột vẫn gặp nhau thường và 3 năm qua, Bột vẫn chơi nhạc cùng band của Lủng anh. Giờ thì Lủng em đứng ra tổ chức concert QVTHXV mang tên Đường về này. Với mọi người, đó là một đêm diễn tái hợp, một đêm diễn hoài niệm lại “điều ngọt ngào hôm qua”, một đêm mà họ đã từng luôn mong đợi nhưng tưởng như không bao giờ có thể tới… Còn với tôi, đó là một đêm của bạn cũ, một đêm sẽ cho tôi được tạm sống lại một tuổi trẻ của mình: điên rồ đấy nhưng cũng nhiều ưu tư đấy.
2: Bột
Bột với tôi chính ra có khá nhiều kỷ niệm, từ cái thuở 22-23 năm trước, ngày nào cũng gặp nhau hai cữ ở 33 Nguyễn Trung Trực. Trong mắt tôi, nó là một thằng thập thành nghệ sĩ cho dù tôi đã thấy nó trong nhiều bộ dạng khác nhau: từ mái tóc tết, bện kiểu Bob Marley cho tới quần tây chemise trắng chỉn chu; từ quần short áo thun cho tới bộ đồ blink đúng nghĩa.
Tôi còn nhớ, khoảng 2005, nó thuê cửa hàng nho nhỏ chênh chếch ở phía đối diện báo CATPHCM chuyên bán quần áo Quảng châu. Thời đó hình như cả nhóm chúng nó đều buôn quần áo. Nhưng có lẽ, có mình ông Bột là mở cửa hàng ra và chẳng buôn bán gì. Nó như nơi trú chân, với căn gác để tối nó ngủ thì phải. Công việc của Bột là chơi, chơi và chơi.
Chính cái chơi ấy mà tôi với nó xô xát, hay đúng hơn là tôi đánh nó. May thế cơ chứ, thời đó mà camera nhiều như hôm nay, có khi giờ này tôi đã bị liệt vào danh sách “những thanh niên tìm bố nhưng cuối cùng lại là tìm bế”. Ở quán quen của ông Chung cộ, tôi mắng Bột khi thấy nó chơi quá. Đại ý, tôi bảo nó “mẹ đã nuôi em để em toàn tâm đi làm nghệ sĩ thì em phải có tác phẩm để ít ra mẹ còn có cái mà khoe khi bạn bè hỏi”. “Mưu sự tại nhân, hành sự tại men”, thế nào hôm đó nó lại cãi tôi, đúng theo cái kiểu “làm sao mà anh hiểu được”. Thế là đụng tay đụng chân. Chỉ nhớ, sáng hôm sau, nó gọi điện hỏi tôi “Ơ, anh ơi, xe của em hôm qua để đâu anh nhỉ?”. Tôi đáp “Anh gửi gắm chủ quán đàng hoàng rồi. Quán quen của anh. Anh dặn người ta hôm nay hoặc mai em ghé lấy xe rồi. Em nhớ ghé lấy đi nhé.”. Lấy xe xong, Bột chạy lên nhà tôi ở quận 4, căn hộ mà bao đêm Bột đã ghé nhậu và ở lại đó. Rồi nó ôm đàn hát tôi nghe bài Đường về, khoe là “bài này em mới sáng tác”. Tôi đã ngẩn người khi nghe bài ấy. Nhưng lúc đó tôi không còn khuyên nhủ nó như đêm trước nữa rồi. Tôi đã rất tiếc khi thấy nó sáng tác hay như thế mà không đầu tư thời gian sản xuất ra cho chỉn chu, cứ ôm đàn hát ở quán nhậu với bè bạn mãi. Cái nuối tiếc ấy còn ngay buổi sáng đó nhưng nó không bật ra thành lời. Tôi tự nhủ “lớn rồi, phải tự hiểu”.
Rồi bẵng đi một thời gian, nó không liên lạc với tôi. Chỉ đến khi album “Đường về” ra mắt, nó mới gọi tôi để khoe, để hẹn tặng đĩa. Nhưng nó không biết là anh nó đã mua album ngay ngày đầu tiên lên kệ rồi.
Biến cố tới, nhiều biến cố là khác và tôi nghe nhiều người kể về Bột. Đã có những lúc không ai có thể liên lạc được nó và tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng thi thoảng nó vẫn nhắn, vẫn gọi tôi, khi bất thần nó nghĩ ra cái gì đó. Tôi thì vẫn đau đáu nghĩ về nó, với nỗi tiếc nuối khác. Tôi hiểu cái vốn cảm hứng trong người Bột còn dồi dào lắm nhưng việc nó dừng lại chỉ sau một album, dừng lại đúng cái tuổi rực rỡ nhất thật đáng trách vì dễ gây hiểu lầm rằng nó chỉ là một dạng “toả sáng một lần”. Tôi không thể chứng minh thay cho nó bằng lời. Phải tự nó tìm lại con đường để chứng minh điều đó. Nhưng mỗi lần gặp lại nó, tôi cũng chỉ tỉ tê một việc duy nhất “quay lại với âm nhạc đi em”.
Rồi một ngày năm 2023, nó đồng ý với tôi sẽ trở lại. Tôi hào hứng lên cả kế hoạch cho chương trình trở lại ấy. Cũng có vài người nhắc tôi phải cẩn trọng kẻo Bột nó lại bỏ cuộc nửa chừng. Có người còn nói thẳng là “làm việc với Bột rủi ro lắm đó”. Chẳng ngờ, rủi ro không đến từ Bột mà lại đến từ người thứ ba. Cả tôi lẫn Bột trao nhầm niềm tin cho một nhà tổ chức lởm khởm. Bột “bể show” ngay lần khẳng định quay lại còn tôi thì mất cả uy tín lẫn tiền bạc khi nhà tổ chức kia cầm của tôi chút tiền còi lặn thẳng cánh cò bay. Nhưng trong cái rủi lại có cái may. Bột dường như tìm lại được mục đích để trở lại với sân khấu. Nó bắt đầu đi diễn lại, bắt đầu ngồi nghĩ ra những việc cần phải tiếp tục làm với âm nhạc ngay sau một show mới kết thúc. Lần nào nó cũng gọi tôi ra, uống dăm chai beer và “theo anh thì em nên thế này, hay nên thế kia”. Chính thức lúc ấy tôi hiểu: “Bột đã nuôi được nguồn cảm hứng thêm lần nữa trong đời”.
Những buổi diễn gần đây, Bột thường hay rủ mẹ đi xem. Đó là điều nó chưa bao giờ làm ở tuổi trẻ. Nhưng điều đó cho tôi hiểu, và tin chắc, đây là lúc Bột nghiêm túc nhất với âm nhạc. Nhiều khi, nó nghiêm túc quá đâm ra tôi lại phải trêu cho nó “mềm” bớt không khí đi. Khi thì tôi gọi nó là “ông Văn Bột”, khi tôi lại đùa là “nhạc sĩ Chu Minh Bột” vì nó có khuôn mặt nhang nhác cả ông Văn Cao lẫn anh Chu Minh Ký. Bột vốn quê Hải Phòng mà. Và dân Hải Phòng làm nghệ thuật thì toàn kỳ hoa dị thảo cả.
Bây giờ, Bột đã về lại trong đội hình QVTH, nơi có Minh thị nở luôn là người mà nó tin tưởng nhất cũng như chiều nó hết mực. Thực tế, trong âm nhạc, Bột luôn kiếm người đồng cảm để chơi nhạc cùng chứ không chăm chăm kiếm người giỏi nhất. Nó tìm ra được sự đồng cảm ấy ở Minh. Và Bột cũng đòi hỏi từ đồng sự rất nhiều. Nó muốn mọi người luôn phải cập nhật. Nó sợ bị cũ. Thế nên, trong các buổi tập gần đây của QVTH, nó luôn đưa ra những đề bài khá dị. Chính cái dị ấy mới tạo nên cái chất của QVTH, của ông Chu Văn Bột rạch giời rơi xuống này.
3: đằng sau đường về
“Cuối con đường… là những con đường khác”, câu này chắc chúng ta cũng quen nghe rồi. Và ắt hẳn, chúng ta cũng sẽ hỏi “rồi sau Concert Đường về QVTHXV này, band nhạc sẽ tiếp tục thế nào? Hay là chỉ diễn với nhau một lần kỷ niệm rồi thôi?”. Tôi không hỏi Bột, Minh, Long bass câu hỏi đó. Tôi đi thẳng vào vấn đề và “đặt hàng” luôn “Phải có gì đó mới. Phải có sản phẩm mới. Người ta chỉ sống trong ký ức cùng với mình được một đôi lần thôi. Muốn họ đi cùng mình tiếp tục, mình phải tiếp tục trước”. Tôi dám “đặt hàng” như thế cũng bởi tôi biết Bột còn nhiều sáng tác mới lắm. Chỉ là nó chưa nhận thấy thời điểm phù hợp để ra mắt trong suốt mấy năm qua thôi. Và vì thế, tôi tin, sau đường về… sẽ là một con đường tiếp tục.
Khán giả yêu mến QVTH cũng mong điều đó. Họ yêu mến những ca khúc mà họ thuộc nằm lòng, nhưng họ cũng hiểu “đến với tôi phía trước” chứ không chỉ “nhìn lại đằng sau”. Họ từng giật mình khi những tâm sự bằng âm nhạc thành thật nhất được QVTH bật ra cách đây 15 năm trước và họ chờ đợi những câu chuyện như thế được kể nữa. QVTH và Bột đã từng dừng kể chuyện mới suốt 15 năm rồi. Giờ là lúc chuyện mới được bày ra, nhất là khi trên thị trường âm nhạc, đã có biết bao nhiêu câu chuyện kể mới mẻ khác được giới thiệu mà chủ nhân của những câu chuyện đó không phủ nhận rằng mình đã nhận được chiều kích mạnh mẽ từ chính QVTH.
Album Đường về 15 năm trước đã mở ra một lối viết ca khúc với phần ca từ đời thường nhưng sắc lẹm như từng nhát cứa bất ngờ lên cảm xúc của người nghe. Kéo theo sau album đó là cả một thế hệ sáng tác ca khúc ở Việt Nam dũng cảm hơn khi sử dụng ngôn từ so với những chuẩn mực đã được đặt ra của cha anh đi trước. Có thể nói QVTH như người dò lối và mở đường. Khi con đường đã thành hình, tại sao họ lại không đi cho tới tận cùng con đường ấy đây, để hiểu rằng cuối con đường sẽ là những con đường khác?
Và tôi tin, concert Đường về QVTHXV cũng chỉ là đoạn cuối của một con đường mà từ đó, sẽ lại là những con đường khác hiện lên, mà ở đó chúng ta thấy bóng dáng và dấu chân mới hồ hởi hơn của Quân, của Minh “Thị nở”, của Long bass và ông “Chu Văn Bột” mà tôi luôn yêu quý bất kể điều kiện nào.
Giờ thì chờ tới giờ G thôi. Một Đường về từng XaVợi trong mong mỏi của bao người sẽ không còn là điều bất khả nữa. Và chúng ta sẽ lại được sống trong điều kỳ diệu hôm qua ở những khoảnh khắc ngọt ngào hôm nay.
Tác giả: James Mustaine
“Tôi vẫn nhớ ngày hôm ấy, tôi đang ngủ trong phòng thì thằng Jame và Lars lay tôi dậy: “Này dậy đi, đây là vé xe về California, mày bị cho cút khỏi Band”. Tôi thẫn thờ chẳng biết chuyện gì xảy ra, tôi liên tục hỏi bọn nó “Không có cơ hội lần hai à, tao không có cơ hội làm lại à?”, tất cả nhận lại chỉ là cái lắc đầu từ chối và tôi đã bị đuổi khỏi Metallica như thế đấy” (Dave Mustaine)
𝟏. 𝐓𝐡𝐞 𝐄𝐱𝐢𝐥𝐞: Chuyến xe buýt của kẻ lưu đày và Cái tên của sự hủy diệt
Tháng 4 năm 1983, Dave Mustaine bị đánh thức một cách thô bạo, bị tống cổ khỏi Metallica ngay trước thềm thu âm album đầu tay và bị ném lên một chuyến xe buýt đằng đẵng 4 ngày để đi từ New York về lại California. Không một lời cảnh báo, không một cơ hội sửa sai.
Nhưng ngồi trên chuyến xe buýt tồi tệ đó, Dave không gào khóc. Gã nghiến răng tìm cách trả đũa. Giữa cơn bực tức, khi đang lục lọi tìm một mảnh giấy lộn để viết vài dòng ý tưởng, Dave tình cờ nhặt được một tờ truyền đơn chính trị của thượng nghị sĩ Alan Cranston bị vứt lăn lóc trên sàn xe. Trên mặt giấy in một câu nói ám ảnh về thảm họa chiến tranh: "𝑇ℎ𝑒 𝑎𝑟𝑠𝑒𝑛𝑎𝑙 𝑜𝑓 𝑚𝑒𝑔𝑎𝑑𝑒𝑎𝑡ℎ 𝑐𝑎𝑛'𝑡 𝑏𝑒 𝑟𝑖𝑑 𝑛𝑜 𝑚𝑎𝑡𝑡𝑒𝑟 𝑤ℎ𝑎𝑡 𝑡ℎ𝑒 𝑝𝑒𝑎𝑐𝑒 𝑡𝑟𝑒𝑎𝑡𝑖𝑒𝑠 𝑐𝑜𝑚𝑒 𝑡𝑜" (Kho vũ khí hủy diệt hàng triệu người không thể bị xóa sổ bất chấp mọi hiệp ước hòa bình).
Thuật ngữ "𝐌𝐞𝐠𝐚𝐝𝐞𝐚𝐭𝐡" găm thẳng vào bộ não đang sục sôi thù hận của Dave. Gã quyết định gạch bỏ chữ "a" để tạo ra một danh xưng độc nhất: 𝐌𝐞𝐠𝐚𝐝𝐞𝐭𝐡. Nó không chỉ là một cái tên, nó là biểu tượng của sự tàn sát tột cùng, một tuyên ngôn hoàn hảo để gói ghém toàn bộ sự thù hận và cái tôi bị chà đạp của Dave.
Megadeth được thai nghén từ chính khoảnh khắc nhặt tờ truyền đơn ấy. Cái tên gieo rắc cái chết đó đã trở thành loại nhiên liệu đốt cháy toàn bộ hệ thống của ban nhạc trong những ngày đầu tiên. Dave Mustaine không chỉ muốn chơi nhạc, gã muốn phát động một cuộc chiến tranh hủy diệt thực sự.
𝟐 . 𝐓𝐡𝐞 𝐀𝐫𝐜𝐡𝐢𝐭𝐞𝐜𝐭𝐮𝐫𝐞 𝐨𝐟 𝐀𝐠𝐠𝐫𝐞𝐬𝐬𝐢𝐨𝐧: Ma trận Riff và Tư duy làm nhạc dị biệt
Nếu chỉ dựa vào sự băm bổ và tốc độ, Megadeth đã sớm lụi tàn, bởi ở thời điểm đó, Slayer là hiện thân rõ nhất cho điều ấy. Để thực hiện lời thề đè bẹp những kẻ cũ, Dave Mustaine hiểu rằng gã phải dùng đến một vũ khí cao cấp hơn: Phải vừa nhanh, vừa phức tạp, một thứ vũ khí đủ sức đè bẹp được Metallica.
Sự dị biệt lớn nhất của Dave nằm ở cách gã định nghĩa lại vai trò của Guitar Rhythm. Với 𝐃𝐚𝐯𝐞 𝐌𝐮𝐬𝐭𝐚𝐢𝐧𝐞, những câu Rhythm của gã hóc búa đến mức dư sức làm câu Lead ở bất kỳ ban nhạc nào khác. Gã lạm dụng cực kỳ khéo léo kỹ thuật Pedal Point nện liên tục vào một dây trầm để giữ nhịp, trong khi các ngón tay còn lại liên tục chạy những dải giai điệu lắt léo ở các dây cao hơn. Minh chứng rõ nhất chính là những câu Riff bóp nghẹt các tay đàn cover trong 𝐇𝐨𝐥𝐲 𝐖𝐚𝐫𝐬... 𝐓𝐡𝐞 𝐏𝐮𝐧𝐢𝐬𝐡𝐦𝐞𝐧𝐭 𝐃𝐮𝐞 hay 𝐓𝐨𝐫𝐧𝐚𝐝𝐨 𝐨𝐟 𝐒𝐨𝐮𝐥𝐬.
Cái kỹ thuật bấm "Spider Chord" trứ danh của Dave thực chất chỉ là bề nổi, sinh ra từ chính cái tư duy "cuồng bách phân" của gã: Dave ghét sự luộm thuộm, gã muốn lướt qua các hợp âm ở tốc độ bàn thờ mà không được phép có một tiếng ồn tạp âm nào vang lên.
Bên cạnh đó, cấu trúc bài hát của Megadeth không đi theo đường thẳng, cũng không từ tốn xây dựng bối cảnh.
Nhạc của họ bị "bẻ lái" liên tục, vỡ vụn bởi những lần đổi nhịp và đổi tốc độ đột ngột không hề báo trước. Nó mang cái tính chất ngẫu hứng, lắt léo và hóc búa của Jazz/Progressive, nhưng lại được nhồi vào cái khuôn của kim loại. Người nghe giống như đang ngồi trên một chiếc xe lao dốc không phanh, liên tục bị quăng quật qua những khúc cua của giai điệu.
Đồng bộ với thứ âm nhạc ấy, đó là một không gian chủ đề hoàn toàn khác biệt. Trong khi Slayer đắm chìm vào ma quỷ, Anthrax nhảy múa cùng văn hóa đường phố, thì Megadeth chĩa thẳng nòng súng vào những âm mưu chính trị, sự thối nát của hệ thống, chiến tranh hạt nhân (Peace Sells, Symphony of Destruction). Và giọng hát của Dave không gầm rống như Jame Hetfield, không gào thét như Tom Araya, mà là tiếng gầm gừ đanh đá, lầm bầm qua kẽ răng. Cách hát như vừa đang nhếch mép mà cười lại hợp với những câu Riff từng lời mà lão viết ra. Nhạc của lão mà, nghe hay là được.
𝟑. 𝐓𝐡𝐞 𝐆𝐨𝐥𝐝𝐞𝐧 𝐄𝐫𝐚: Kỷ nguyên Rust in Peace và Đội hình bất khả chiến bại
Cỗ máy Megadeth chỉ thực sự chạm đến đỉnh cao quyền lực tuyệt đối và đồng thời đưa toàn bộ dòng Thrash Metal lên một tầm vóc mới khi bước vào thập niên 90 với siêu kiệt tác Rust in Peace. Đó là lúc Dave Mustaine hoàn thiện được đội hình hoàng kim của mình với sự xuất hiện của hai mảnh ghép định mệnh: 𝐌𝐚𝐫𝐭𝐲 𝐅𝐫𝐢𝐞𝐝𝐦𝐚𝐧 và 𝐍𝐢𝐜𝐤 𝐌𝐞𝐧𝐳𝐚.
Nếu đặt hai Dave và Marty cạnh nhau, đó là một sự đối lập vĩ đại. Dave Mustaine giống như một gã bạo chúa, nện những câu Rhythm góc cạnh, gắt gỏng, ngập ngụa sự thù hằn và hóc búa đến xoắn não. Nhưng để cân bằng lại sự thô ráp đó, Marty Friedman xuất hiện như một gã lãng khách. Mang theo tư duy âm nhạc phương Đông và kỹ thuật bẻ nốt điêu luyện, Marty không Shred một cách vô hồn. Gã dệt lên nền nhạc bạo liệt của Dave những đoạn Solo mượt mà, uyển chuyển, lả lướt nhưng sắc như một lưỡi dao mổ.
Hãy nghe Tornado of Souls, cú Solo của Marty trong bài này được tôn thờ là một trong những đoạn Solo vĩ đại nhất lịch sử Heavy Metal, nơi từng nốt nhạc cất lên đều mang đầy tính tự sự và giai điệu tuyệt đẹp. Hay như màn đọ súng kinh điển trong Hangar 18, nơi Dave và Marty thay phiên nhau nã tới 11 câu Solo đan quyện, tung hứng lắt léo đến rợn ngợp. Bọn họ không dẫm chân lên nhau, mà nâng đỡ nhau để chứng minh rằng: Thrash Metal hoàn toàn có thể là sự hoàn mỹ, là đỉnh cao của kỹ thuật.
Tuy nhiên, để hai tay kiếm tiền tuyến có thể tự do múa lượn trên những khuôn nhạc điên rồ nhất, bọn họ cần một móng nhà đổ vững chắc. Đó là lúc cặp bài trùng Nick Menza và David Ellefson chứng minh đẳng cấp.
Nick Menza mang tư duy tinh tế, lắt léo của nhạc Jazz và Fusion đắp thẳng vào Thrash. Thay vì nã trống một cách bừa bãi, những cú nã kẹp đúp của Menza tàn khốc như súng máy nhưng lại có điểm rơi vô cùng thông minh. Bám chặt vào từng cú đập của Menza là tiếng Bass điêu luyện, lầm lì và luôn hiện diện rõ nét của Ellefson.
Sự ăn ý đến quái đản này bộc lộ rõ nhất qua track Dawn Patrol, một bản thu bức bối, tăm tối, nơi chỉ có tiếng Bass linh hoạt của Ellefson cuộn chặt lấy nhịp trống điêu luyện của Menza, tạo ra một sự ám ảnh đến rợn gáy mà không cần bất kỳ một tiếng Guitar nào.
𝟒. 𝐓𝐡𝐞 𝐒𝐮𝐫𝐯𝐢𝐯𝐨𝐫: Đỉnh cao danh vọng, Bản án tử và Cỗ máy vĩnh viễn không gỉ sét
Trước khi nói về những bi kịch, phải khẳng định rằng Megadeth đã thực sự tạo ra một đế chế càn quét toàn cầu. Bắt đầu từ cú nã đại bác 𝐏𝐞𝐚𝐜𝐞 𝐒𝐞𝐥𝐥𝐬... 𝐛𝐮𝐭 𝐖𝐡𝐨'𝐬 𝐁𝐮𝐲𝐢𝐧𝐠? (1986) thiết lập lại tiêu chuẩn của Thrash, cho đến siêu kiệt tác 𝐑𝐮𝐬𝐭 𝐢𝐧 𝐏𝐞𝐚𝐜𝐞 (1990) khiến toàn bộ giới hàn lâm phải cúi đầu. Nhưng vụ nổ thực sự chấn động thế giới phải kể đến 𝐂𝐨𝐮𝐧𝐭𝐝𝐨𝐰𝐧 𝐭𝐨 𝐄𝐱𝐭𝐢𝐧𝐜𝐭𝐢𝐨𝐧 (1992). Album này là một cỗ xe lu thương mại khổng lồ, leo vút lên vị trí Top 2 bảng xếp hạng Billboard 200, bán được hàng triệu bản và đạt chứng nhận đĩa bạch kim kép. Với hàng chục triệu đĩa nhạc được tẩu tán trên toàn thế giới cùng hàng loạt đề cử (và sau này là chiến thắng) tại
Grammy, Megadeth đã tự đắp cho mình một ngai vàng vững chắc trong ngôi đền huyền thoại.
Vĩ đại là thế, nhưng lịch sử của cỗ máy này chưa bao giờ êm đềm. Đó là một chặng đường rỉ máu với sự thay máu thành viên liên tục, những cơn nghiện ngập tàn phá và những biến cố tàn khốc giáng thẳng vào sinh mệnh của Dave Mustaine.
Nếu chấn thương đứt dây thần kinh tay trái năm 2002 từng khiến Megadeth phải tuyên bố giải tán (để rồi Dave tự cắn răng tập đàn lại từ đầu như một đứa trẻ), thì biến cố năm 2019 thực sự là một cơn ác mộng che phủ bầu trời: Dave Mustaine được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vòm họng. Đối với một ca sĩ kiêm thủ lĩnh, đó chẳng khác nào một bản án tử hình tàn nhẫn nhất tước đoạt đi sinh mệnh sự nghiệp. Cả thế giới kim loại lặng đi. Hàng triệu người đã rỉ tai nhau về dấu chấm hết buông xuống cho một đế chế.
Nhưng Dave Mustaine một lần nữa giơ ngón giữa vào cái chết. Bằng sự lì lợm của một kẻ mang đầy sẹo từ dưới đáy xã hội, gã lao vào những đợt hóa trị, xạ trị tàn khốc, đánh bại tận gốc tế bào ung thư và bước thẳng từ giường bệnh quay trở lại phòng thu. Sự hồi sinh ngạo nghễ từ cõi chết đó kết trái thành album 𝐓𝐡𝐞 𝐒𝐢𝐜𝐤, 𝐓𝐡𝐞 𝐃𝐲𝐢𝐧𝐠... 𝐚𝐧𝐝 𝐭𝐡𝐞 𝐃𝐞𝐚𝐝! (2022). Tựa đề album hệt như một lời tuyên cáo lạnh lùng của Dave vỗ thẳng vào mặt tử thần. Dave Mustaine cùng Megadeth vẫn tung ra những nhát chém Riff sắc lẹm, bạo liệt, chứng minh một chân lý bất diệt: Cỗ máy chém này có thể sứt mẻ vì năm tháng, nhưng nó vĩnh viễn không bao giờ gỉ sét.
𝟓. 𝐓𝐡𝐞 𝐋𝐞𝐠𝐚𝐜𝐲: Di sản vĩnh cửu
Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ chuyến xe buýt lạnh lẽo rời khỏi New York năm ấy. Dave Mustaine giờ đây không còn là một gã trai xốc nổi bị nuốt chửng bởi sự cay cú, và Megadeth từ lâu đã vươn mình vĩ đại đến mức tước bỏ hoàn toàn cái mác “sinh ra để trả thù Metallica”.
Bọn họ đã tự đắp lên một ngai vàng đẫm mồ hôi của riêng mình, trở thành một viện hàn lâm thực thụ của giới Metal. Di sản mà Megadeth để lại không chỉ là con số hàng chục triệu đĩa nhạc được bán ra, hay những bức tượng vàng Grammy danh giá. Di sản lớn nhất của họ là việc định hình lại toàn bộ bộ gen của Thrash Metal: Chứng minh cho cả thế giới thấy rằng sự bạo liệt, tốc độ càn lướt hoàn toàn có thể đan quyện một cách hoàn mỹ cùng kỹ thuật thượng thừa.
Không có Megadeth, có lẽ sẽ không bao giờ có những chuẩn mực khắt khe cho hàng loạt các dòng nhạc thế hệ sau như Melodic Death hay Technical Death Metal. Tinh thần của Rust in Peace vẫn đang chảy trong huyết quản của vô số những tay đàn hậu bối.
Bất cứ khi nào thế giới này còn tồn tại những sự giả tạo, những toan tính chính trị bẩn thỉu và những bất công dồn nén đến ngạt thở, thì tiếng hát của Dave Mustaine vẫn sẽ còn vang lên. Cỗ máy chém Megadeth vẫn sẽ tiếp tục nghiền nát mọi thứ trên đường đi của nó.
𝐉𝐚𝐦𝐞 𝐌𝐮𝐬𝐭𝐚𝐢𝐧𝐞
Tác giả: Ổ nhạc của một fan Math-rock
Nếu bạn là một fan J-Rock, hoặc bạn đã từng xem anime từ thời 2010-2013, chắc chắn bạn sẽ biết đến một vài ban nhạc của thời đại khoảng 2010s về trước: the pillows (làm nhạc cho FLCL), Asian Kung-fu Generation (với Re:Re từ anime ERASED). Hoặc xa hơn, chúng ta có NUMBER GIRL - ban nhạc có tầm ảnh hưởng lớn đến scene Nhật về sau, v.v... Dù gì thì, scene Nhật vẫn là một scene vô cùng đa dạng và phức tạp, và một vài ban nhạc không đủ để nói lên tất cả.
Nhưng số lượng ban nhạc có sự “đồng cảm” với tui thì chỉ có vài band thôi. Một trong số đó chính là MASS OF THE FERMENTING DREGS, một bộ ba với âm nhạc mạnh mẽ, tự do và một lịch sử thú vị trải dài hơn 20 năm...
Thành viên hiện tại:
Miyamoto Natsuko / 宮本菜津子 (Bass, Vocal)
Ogura Naoya / 小倉直也 (Guitar, Vocal)
Yoshino Isao / 吉野 功 (Chorus)
1. Những năm đầu tiên, và trước đó, xa hơn nữa...
Từ nhỏ, Natsuko vốn không phải là một cô gái yêu thích âm nhạc. Chúng không tồn tại trong cuộc sống của cô, mà thay vào đó là những ngày tập luyện ở câu lạc bộ bóng chày nam của trường. Cuộc sống cứ như vậy mà tiếp diễn, cho đến khi Natsuko 15 tuổi và cô đọc được một tin tức trên báo nói rằng tay guitar lead của X Japan, hide, đã qua đời. Bị hấp dẫn bởi vẻ ngoài cũng như tài năng của hide, cô bắt đầu lần mò tìm hiểu về anh. Cô tìm mua một cây guitar, cô nghe những nghệ sĩ mà hide thích, cô đi xem những nghệ sĩ có liên quan đến hide và cả những nghệ sĩ nước ngoài. Cô dành tiền làm thêm để mua đĩa và đi xem nhạc sống: không biết bao nhiêu lần cô đi tới Tower Records để mua đĩa, cô cũng chẳng bận tâm đến bất cứ thứ gì khác ngoài âm nhạc.
Không biết từ lúc nào, âm nhạc đã chiếm trọn cuộc sống của Natsuko như vậy.
Để tìm thành viên cho ban nhạc, Natsuko bắt đầu đi tìm kiếm thành viên bằng cách dán tờ rơi ở khắp các cửa hàng nhạc cụ (thời đó chưa có Internet). Nhờ vậy, cô tìm được Gotoh Reiko / 後藤玲子, tay trống đầu tiên của band. Người tiếp theo là Ishimoto Chiemi / 石本知恵美. Chiemi có vóc người nhỏ nhắn, là fan của Tabuchi Hisako / 田渕ひさ子 (NUMBER GIRL) và chơi một cây Jazzmaster màu đỏ. Họ đặt tên band bằng cách ghép những từ tiếng Anh mình thích vào, và nhờ vậy cái tên “MASS OF THE FERMENTING DREGS” đã ra đời như thế.
2. Từng bước một, họ sẽ trở thành một ban nhạc lớn...?
Trong những năm đầu tiên kể từ khoảng 2002 cho đến 2005, 2006, chủ yếu MOTFD chỉ chơi trong khu vực Kobe và không đi xa hơn thế. Bộ ba có viết một số bài hát trong thời gian này: một bài nằm trong một đĩa nhạc tổng hợp vào năm 2003, ba bài được làm thành một demo nho nhỏ, và cuối cùng là đĩa đầu tiên mang tên “kirametal”.
Qua năm sau (2007), hãng đĩa EMI Music Japan tổ chức một cuộc thi tìm kiếm nghệ sĩ mới mang tên “Road To Tarbox Audition”. MOTFD gửi những demo của mình cho cuộc thi và họ đã chiến thắng. Phần thưởng là một suất thu âm album bởi Dave Fridmann (người đã thu âm cho NUMBER GIRL). Cùng năm, họ xuất hiện ở sân khấu Rookie-A-Go-Go của Fuji Rock. Có thẻ coi đây như là lần debut lớn đầu tiên cho MOTFD sau một thời gian hoạt động ở trong Kobe.
Năm 2007, biến động đầu tiên xảy ra với MOTFD.
Tay trống Reiko Gotoh quyết định rời band. Trong thời gian chưa tìm được tay trống chính thức, MOTFD được hỗ trợ bởi ba người khác nhau: Nishiura Kensuke (ex. Soutaiseiriron), Arimatsu Masuo (ex. BACK DROP BOMB), and Yoshino Isao (WORD). Trong số đó, Isao là người hỗ trợ lâu nhất. Cụ thể, anh được liên lạc bởi người đang đánh hỗ trợ cho MOTFD lúc đó, và anh ta nói rằng “Yên tâm, anh sẽ thích band này đấy.”
Isao đáp:
“Đưa tôi slot đó, mau.”
“OK. Khi nào họ lên Tokyo đánh show thì tôi sẽ giới thiệu anh cho.”
Isao nghe thấy vậy vui lắm, và lúc gặp band, anh đã tặng mấy đĩa nhạc của band cũ (WORD) cho Natsuko và Chiemi. Cũng nên biết rằng, sau khi WORD dừng hoạt động, Isao đã có ý định từ bỏ việc chơi nhạc, nhưng khi nhận được lời mời từ Natsuko, anh đã ngay lập tức đồng ý. Nếu không có lời đề nghị ấy, có lẽ đã không có Isao và MOTFD của ngày bây giờ.
Dù vấp phải sự hoài nghi từ hãng đĩa (vì MOTFD vốn là một ban nhạc nữ và tự dưng chúng ta lại có một ông anh lớn hơn 10 tuổi) nhưng Natsuko vẫn rất kiên trì, và Isao tiếp tục đánh support cho ban nhạc, cũng như hỗ trợ cho Natsuko và Chiemi rất nhiều thứ về âm nhạc cũng như đường lối làm việc với các hãng đĩa. Về sau, anh trở thành tay trống chính thức cho MOTFD khi gia nhập EMI Music Japan vào năm 2010.
Qua hai năm tiếp theo, MOTFD phát hành 2 EP, MOTFD (2008) và World Is Yours (2009). Họ đã thu hút được một sự chú ý đáng kể vào thời điểm đó so với các ban nhạc khác, và cùng năm 2009 đó, MOTFD một lần nữa xuất hiện ở Fuji Rock. Qua năm sau, band đổi sang hãng đĩa mới và phát hành một single, mở đường cho album dài đầu tiên: Zero Comma, Iro Toridori No Sekai (ゼロコンマ、色とりどりの世界) vào năm sau.
Mặc dù vậy, điều đó không có nghĩa là con đường của MOTFD đang trở nên rộng mở.
Cuối năm 2010, Chiemi rời band với lý do sức khỏe. Hai năm phát hành nhạc cũng không phải là một khoảng thời gian dễ thở cho Natsuko, đã có rất nhiều ý kiến đến từ nhiều phía khác nhau khiến cho việc làm nhạc trở nên áp lực. Chiemi đi rồi, Natsuko tìm kiếm một tay guitar khác. Cô nhớ đến Ogura Naoya - một người bạn, một tay guitar thuộc một ban nhạc cùng hãng đĩa. Cô tìm đến anh và hỏi “Nếu cậu sẵn lòng, cậu có thể chơi cho chúng tôi được chứ?”
“Được.” Ogura đáp.
Và ban nhạc tiếp tục chơi thêm một năm nữa, cho đến khi Isao nói rằng... anh sẽ rời MOTFD. Và Isao đi - sau show ở Shibuya WWW, 23/12/2011. Không có Isao, Natsuko cố gắng tiếp tục hoạt động, nhưng rồi cô cảm thấy rằng ban nhạc mình đã đồng hành cùng 9 năm không còn là chính nó nữa. Có gì đó đã thay đổi, mà không đúng - mọi thứ đã thay đổi.
Sau rất nhiều thời gian suy nghĩ, Natsuko quyết định đã đến lúc phải dừng lại. Ngày 1/9/2012, MOTFD chính thức dừng hoạt động, đồng thời bài hát cuối cùng “TanTanTan” được phát hành trên trang web của band, như một món quà cuối cùng dành tặng cho tất cả những người hâm mộ.
Và câu chuyện về MOTFD kết thúc tại đây...(?)
3. Tái hợp, trở lại và vươn mình ra thế giới.
Thấm thoắt ba năm đã trôi qua.
Một ngày nọ, những người hâm mộ phát hiện ra bức thư chia tay của Natsuko đã biến mất khỏi trang chủ của MOTFD. Trong khi mọi người đang thắc mắc, một thông báo show diễn xuất hiện như sau:
Thứ 3, 29/12/2015
Q2 concert EXTRA ~ NEW YEAR FROM HERE ~
Shimokitazawa GARAGE
Act:
MASS OF THE FERMENTING DREGS
安部勇磨 / Yuma Abe (never young beach)
雨のパレード / Ame no Parade
Toàn bộ vé đã sold out chỉ trong một giờ. Mọi người xôn xao về sự trở lại của MOTFD, nhưng sự thật, chuyện gì đã xảy ra?
Năm 2015, bạn của Natsuko là nữ họa sĩ Kozaki Ai / こざき亜衣 đã đoạt giải Shogakukan Manga / 小学館漫画賞 lần thứ 60 cho bộ manga của cô có tên “Asahinagu”. Cô đã bộc lộ rằng nếu có thể, cô mong MOTFD sẽ biểu diễn trong bữa tiệc mừng của cô. Và Natsuko ngớ người trước câu trả lời đó:
“Ế, làm sao mà thế được?”
“Nhưng cậu có Naoya rồi mà.”
“Ừ phải. Nhưng kiếm đâu ra người đánh trống cho bây giờ?”
Kozaki xòe hai bàn tay ra và nói “Đây, trống đây.” gợi ý:
“Vậy sao cậu không thử gọi anh Isao?”
Natsuko nghĩ ngợi. Gọi Isao không hẳn là một chuyện dễ, một phần vì đã 4 năm kể từ khi họ chia tay và Natsuko chưa hề một lần liên lạc lại. Mọi thứ dường như khá là tệ. Dù thế, Kozaki vẫn khuyên Natsuko rằng “cứ liên lạc cho anh ấy đi”. Natsuko làm theo, cô viết thư cho Isao giải thích tình hình:
“Chuyện là, bọn em định tái hợp và tiếp tục đánh band anh ạ, mà bọn em chưa tìm được drummer nào cả. Ai bảo là em thử gọi anh xem, nên là anh nghĩ sao về việc quay lại đánh band...?”
“...”
“...”
“...”
“Alo?”
“Anh tham gia!” - Đầu phía bên kia đáp lại đầy chắc chắn.
Natsuko vui mừng nhắn lại cho Ai “Ảnh tham gia rồi kia!!”
Bộ ba hẹn nhau quay trở lại phòng tập. Lần đầu đánh nhạc trở lại với nhau sau hơn 3 năm không chơi nhạc cùng, không khí trong phòng tập có phần lúng túng. Nhưng sự ngại ngùng ấy nhanh chóng biến mất sau khi cả ba cùng chơi lại những bản nhạc cũ. Natsuko nhận ra rằng Isao chính là “chân ái” của MOTFD, còn Isao phải công nhận rằng mình vẫn nhớ cảm giác tuyệt vời khi chơi cho MOTFD. Về phần Naoya, anh cũng có chút bối rối nhưng rồi mọi thứ vẫn ổn - dù sao trong 3 năm vừa rồi anh vẫn chơi cùng Natsuko trong một số dự án, nên không có vấn đề gì cả.
Và MOTFD đã trở lại như vậy. Giờ đây, họ là một ban nhạc indie không đứng dưới một hãng đĩa nào cả, nghĩa là họ có thể hoạt động theo bất cứ phương thức nào mình cảm thấy phù hợp. Ban nhạc quay trở lại, biểu diễn, làm nhạc cùng nhau. Ba năm sau đó, No New World ra đời (2018), đánh dấu bước đi mới trong sự nghiệp: một album mới, được thực hiện bởi những thành viên chính thức của hiện tại.
Mọi thứ cứ tiếp diễn như vậy cho đến khoảng năm 2020, và đại dịch Covid ập đến. MOTFD vẫn ra được thêm một single, nhưng Covid đã cản trở một vài tour diễn của họ. Cũng vào lúc này, một bước ngoặt khác xảy đến. Số lượng người nghe nhạc của MOTFD ở trên các nền tảng bắt đầu tăng vọt, thậm chí lượng ngươi nghe ở Mỹ đã vượt qua cả Nhật Bản. Trước đó, họ cũng đã nhìn thấy điều này nhưng có lẽ đã không để ý lắm cho đến khi đại dịch diễn ra. Và đó là bước ngoặt đưa MOTFD hướng ra ngoài thế giới. Họ muốn đi tour ở nước ngoài. May thay, Yuji Sakatani - quản lý của tricot - lại đang có thời gian rảnh, nên Natsuko đã nhờ ông giúp đỡ về chuyện này.
Kể từ sau đại dịch, MOTFD bắt đầu hành trình tiến ra thế giới của mình. Chính xác thì đây không phải lần đầu tiên họ đi ra nước ngoài, MOTFD đã từng qua Toronto hồi tháng 5 năm 2016. Tháng 8/2022, chỉ vài ngày sau khi album Awakening:Sleeping được ra mắt (và lên Top Alternative Album trên Itunes Japan) họ đánh ở ArcTanGent - một lễ hội chủ yếu dành cho các band Math-rock. Trái ngược với lo lắng rằng “liệu mình có thuộc về chỗ này không, mình đâu phải band Math-rock đâu nhỉ?” sự ủng hộ của khán giả khiến cho band cảm thấy được ủng hộ rất nhiều.
Cuối năm 2023, MOTFD khởi động chuyến đi vòng quanh thế giới của mình.
Đầu tiên, họ tổ chức tour diễn vòng qua Đông Nam Á, ghé qua Phillipines, Thái Lan và Baybeats Fest ở Singapore. Sau đó, band tiến sang Bắc Mỹ lần thứ nhất. Tour diễn được tài trợ qua phương thức crowdfunding, và đã rất thành công khi thu hút được fan ở khắp mọi nơi đến xem (cũng như nhiều show đã cháy vé). Qua năm nay, đầu năm họ đi tour ở châu Âu, và tháng 10 vừa rồi cũng đã hoàn thành tour Bắc Mỹ lần thứ 2 liên tiếp, với 27 show diễn ở 25 thành phố khác nhau trong vòng hơn một tháng.
Tháng 11/2024 này, họ sẽ thực hiện tour diễn châu Á lần thứ 2.
Ngày 24/11/2024, họ có mặt ở Hanoi Rock City, Hà Nội.
4. Âm nhạc, định hướng và scene nhạc
Dù có nói bao nhiêu về lịch sử của một ban nhạc đi nữa, nếu như âm nhạc của họ không có sự hấp dẫn thì cũng không có gì nhiều để nói thêm. Vậy thì, âm nhạc của MOTFD có gì mà lại có thể hấp dẫn người nghe ở khắp mọi nơi trên thế giới như vậy?
Trước hết, cần biết một điều rằng, đối với Natsuko nói riêng hay MOTFD nói chung, âm nhạc của họ là một thể thống nhất được tạo nên bởi tất cả các thành viên trong nhóm. Trống, bass, guitar và vocal, dù có là những nhạc cụ riêng rẽ, cách chơi của mỗi người khi kết hợp lại tạo ra một không khí khác biệt so với những người khác. Đặc điểm này có thể được nhận ra một cách khá dễ dàng: đối với thời kỳ khi còn Reiko Gotoh, âm thanh của MOTFD thô ráp, mạnh mẽ và thiên hướng nhiều về Hardcore / Post-hardcore (thậm chí bạn còn có thể nghe thấy tiếng scream từ Gotoh Reiko hoặc Natsuko). Khi chuyển sang đánh với Isao, chất Hardcore vẫn còn (như かくいうもの, She’s inside He’s outside) nhưng một vài yếu tố của Pop (vocal với giai điệu dễ nghe hơn và ít scream) đã xuất hiện nhiều hơn. Hướng đi này tiếp tục ở album tiếp theo, Zero Comma với tiếng guitar có phần “ác chiến” hơn. Một số ý kiến cho rằng album này là “hướng đi tiếp theo của MOTFD nếu họ không tan rã”.
Khi ban nhạc tái hợp với tay guitar mới Naoya, yếu tố nhạc Pop trong MOTFD được phát huy nhiều hơn. Có thể nói rằng ở thời kỳ và định hướng mới này, phong cách của Ogura lại phù hợp với âm nhạc của MOTFD mà Natsuko đang muốn hướng đến, và hướng đi này được tiếp tục trong cả No New World và Awakening:Sleeping - thêm một chút Post-rock (1960), Hardcore Punk (Helluva, No need) và “mơ mộng và dịu êm” như Dramatic.
Cho dù các thành viên có thay đổi, dường như cái gốc trong âm nhạc của MOTFD vẫn không thay đổi: trống đơn giản và mạnh mẽ, tiếng guitar distortion ồn ào và âm thanh mạnh mẽ mê hoặc cùng giọng hát đầy cảm xúc của Natsuko. Các thành viên luôn luôn chơi live khi thu âm album, điều đó một phần tạo ra được một hiệu ứng đặc biệt khi việc này “bắt trọn nguồn năng lượng của cả ba thành viên và cả những khoảnh khắc không ngờ đến”.
Nếu như các thành viên của MOTFD không rời band vào khoảng thời gian 2010-2011 (và có thể, nếu không có những xung đột với hãng đĩa), có lẽ MOTFD đã trở thành một ban nhạc nổi tiếng tại Nhật Bản và hoạt động sôi nổi ở trong đó. Nhưng cuối cùng định mệnh lại đưa họ đến một con đường khác: hoạt động như một ban nhạc indie, hướng ra thế giới và được khán giả khắp nơi đón nhận. Khi trở lại hoạt động vào 2015 và sau này, MOTFD không còn là một ban nhạc nổi bật so với các ban nhạc khác trong cùng scene nữa. Những người hâm mộ ở Nhật khi nhắc đến MOTFD sẽ nói “Ồ, Masu Dore vẫn hoạt động à?” hay “Ôi, hoài niệm ghê, tui nhớ Masu Dore hồi đó...” nhưng nói chung, họ cũng không có được sự hưởng ứng ngang với các ban nhạc cùng thời. Bản thân MOTFD cũng là một ban nhạc “ngoài lề” so với scene: âm nhạc của họ có phần khó để “phân loại” để đánh cùng một band nào đó cùng thể loại. Về chuyện này, Natsuko cũng thoải mái: thay vào đó, cô thích việc hợp tác với những người chơi cùng với mình ngoài đời hơn là chỉ giới hạn ở sân khấu, ví dụ như Taigen Kawabe (hát chính trong Helluva), hay Ebina Keita (No need). Ngoài ra, Natsuko cũng chơi thân với Haru Nemuri, một ca sĩ kiêm rapper theo đuổi phong cách Post-hardcore và đánh chung sân khấu một vài lần.
Ngược lại, khán giả ở nước ngoài đón nhận MOTFD vô cùng nhiệt liệt, nhất là ở Bắc Mỹ. Một điều thú vị là MOTFD không hề làm nhạc anime (không làm OP hay ED cho các bài hát), và việc nhạc của họ được người Mỹ đón nhận gần như là nhờ truyền miệng giữa các fan. Nhiều ý kiến trên các diễn đàn cũng đã xếp nhạc của MOTFD vào hàng “dành cho người bắt đầu nghe” và nhờ vậy mức độ phổ biến của họ càng được tăng thêm. Từ hồi đại dịch, ban nhạc đã nhận ra số lượng người nghe ở Mỹ đã tăng vọt, vượt lên cả số lượng ở Nhật Bản. Chính điều này đã tạo ra hiệu ứng và tiền đề cho việc đi tour khắp thế giới của MOTFD trong vài năm gần đây.
Khi tìm nhạc của band, bạn có để ý rằng bìa album của MOTFD vô cùng nghệ thuật và có một phong cách rất riêng biệt không? Đó là bởi vì nhờ có Kozaki Ai - họa sĩ manga, người minh họa và cũng là bạn thân của Natsuko. Natsuko tìm được Kozaki trên internet từ khoảng 2008 (thời điểm ra mắt EP đầu cùng tên) và cảm thấy thích thú với nét vẽ của Kozaki nên đã liên lạc và nhờ vẽ bìa cho những đĩa nhạc của mình. Khi lên Tokyo lần đầu, Kozaki cũng đã đến xem buổi diễn của MOTFD, đó là lần đầu hai người họ gặp nhau ngoài đời. Tình bạn của họ tiếp tục và kéo dài cho đến tận hiện tại, đến mức Kozaki có thể được coi như thành viên thứ 4 của MOTFD. Chính cô cũng là người đã gián tiếp giúp cho bộ ba MOTFD tái hợp (được kể ở phần trước). Bật mí, Kozaki và Naoya đã kết hôn với nhau.
Khi Natsuko nhờ Kozaki vẽ minh họa, chị sẽ gửi cho Kozaki những bài hát của mình và Kozaki sẽ vẽ minh họa dựa trên những bản nhạc đó, ngoài ra không có một yêu cầu gì hết. Một câu chuyện thú vị là khi làm album thứ 4, Natsuko đã định đặt tên album là “Dramatic” sau đó gửi demo cho Kozaki để vẽ. Sau khi Kozaki gửi lại hình minh họa, Natsuko đã nhận ra trông nó không có được “dramatic” lắm, và cuối cùng đổi tên album sang thành “Awakening:Sleeping” như hiện tại.
Tác giả: Ngạo Thuyên
Birmingham, 5 tháng 7 năm 2025
Có những cái kết chỉ như một dấu chấm lặng lẽ. Nhưng cũng có cái kết vang lên như tiếng chuông tận thế, như cơn địa chấn rúng động cả một nền văn hóa. Và đêm nhạc "Back To The Beginning" vào ngày 5/7/2025 chính là một nghi lễ tiễn đưa như trong thần thoại, nơi các vị thần kim loại thực hiện buổi lễ cuối cùng trước khi trở về với sự bất tử.
Tại quê hương Birmingham, nơi những tiếng guitar đầu tiên của metal được khai sinh từ tiếng rền của lò luyện kim, hàng vạn con người đã lặng im rồi bùng nổ. Không phải để ăn mừng, mà để chứng kiến một trang nghi lễ kết thúc của một thời đại. Đây không chỉ là một concert, mà là một nghi lễ vinh quang nơi những vị vua tự nguyện đặt vương miện xuống để trở thành truyền thuyết.
Những tiếng gầm vang từ khắp bốn phương trời
68 ca khúc, hàng chục ban nhạc, và một dàn nghệ sĩ khủng chưa từng có trong một concert tribute: Metallica, Slayer, Pantera, Tool, Guns N’ Roses, Alice In Chains, Gojira, Anthrax, Lamb of God,....
Mastodon mở màn như những hiệp sĩ đầu tiên trong buổi lễ, thừa nhận họ là hậu duệ chính danh của Sabbath. Anthrax, Lamb of God, Halestorm lần lượt tung ra những tribute mãnh liệt, không chỉ là diễn mà là kết nghĩa máu với tổ tiên.
Supergroup A và B hiện ra như hai tổ hợp "dream team" từ vũ trụ song song, nơi mọi rào cản ego bị gỡ bỏ vì tình yêu với Sabbath. Nuno Bettencourt, Lzzy Hale, David Draiman, K.K. Downing, Tom Morello... ai nấy đều chơi như thể đây là lần cuối họ chạm vào nhạc cụ, như những pháp sư dâng hiến phép thuật cuối cùng.
Jack Black cùng dàn hậu duệ trên màn hình tạo nên biểu tượng chuyển giao thế hệ xúc động đến rợn người. Steven Tyler hát cùng dàn guitar huyền thoại như cú móc nối giữa hard rock, heavy metal và nguồn cội của nó. Pantera đưa những linh hồn đã khuất trở về, bằng tinh thần của Dimebag Darrell và Vinnie Paul như hai vị thần hộ mệnh.
Tool và Slayer, hai thái cực một bên thiền định một bên bạo loạn, cùng cúi đầu trước Sabbath. Guns N' Roses tặng tribute riff như lời cảm ơn từ đệ tử. Và Metallica, "học trò" thành công nhất của Sabbath, cày nát sân khấu.
Cổ tích tình yêu metal
Giữa hậu trường, Sid Wilson thành viên số 0 của Slipknot quỳ gối cầu hôn Kelly Osbourne, con gái Ozzy. Một khoảnh khắc lặng thầm nhưng chấn động, khi tình yêu nở hoa đúng nơi linh hồn metal đang rực cháy lần cuối. Trước đó, hai người đã có một cậu con trai đặt tên là Sidney, như lời cam kết thầm lặng rằng di sản này sẽ không dừng lại, chỉ đổi hình hài. Đây chính là cổ tích trong thần thoại, nơi tình yêu được chứng kiến bởi các vị thần.
Ozzy và tiếng hát cuối cùng
Ozzy Osbourne, linh hồn bất tử của Black Sabbath. Tuổi già khiến Ozzy không còn đủ sức đứng dậy. Ông ngồi trên chiếc ngai đen như một vị vua cuối cùng, cơ thể run rẩy vì thời gian, nhưng giọng hát thì vẫn vẹn nguyên như thuở ban sơ. Mỗi câu hát cất lên từ đôi môi già nua ấy vẫn có thể khuấy động linh hồn hàng ngàn người, khiến cả biển người im lặng rồi vỡ òa trong nước mắt.
Ông hát như thể đang nói lời tạm biệt với từng bài hát đã nuôi mình suốt đời. Khi ông rơi nước mắt trong ca khúc cuối, cả thế giới metal cũng rơi nước mắt theo. Từng nốt nhạc là một hồi ký viết bằng máu, mồ hôi, sự điên rồ và niềm tin của cả một đời.
“Paranoid” bản thánh ca cuối cùng
Khi những ánh đèn bắt đầu dịu xuống, Black Sabbath trở lại sân khấu với đội hình trọn vẹn cuối cùng: Tony Iommi, Geezer Butler, Bill Ward, và Ozzy Osbourne. Họ lần lượt cất lên War Pigs, N.I.B., Iron Man, rồi cuối cùng là Paranoid: ca khúc đã khép lại không chỉ đêm diễn, mà cả một kỷ nguyên của metal.
Không cần pháo hoa, không cần sân khấu nâng hạ, chỉ cần riff đầu tiên vang lên là cả khán phòng hóa thành biển lửa của kỷ niệm. Khán giả đứng im, nín thở, gào lên từng câu hát. Một cảm giác linh thiêng lan khắp không gian: đây là lần cuối cùng.
Khi các vị thần gác lại cây đàn
"Back To The Beginning" là một show nhạc, nhưng hơn cả, đó là một chương cuối được viết bằng tình yêu, lòng trung thành, và sự kế thừa. Không có ban nhạc nào khác đủ sức quy tụ một dàn nghệ sĩ khủng đến thế, không có giai điệu nào khác vang lên lại khiến người ta nghẹn ngào đến thế.
Black Sabbath không chỉ kết thúc một chặng đường. Họ đóng lại cánh cổng của một kỷ nguyên với tất cả sự tôn kính và vinh quang. Như trong những câu chuyện cổ tích vĩ đại, các anh hùng không chết mà hóa thành huyền thoại, sống mãi trong lòng những kẻ tin tưởng.
Một lời tiễn biệt đầy huy hoàng. Black Sabbath mãi mãi là cái tên đầu tiên được khắc trên phiến đá của kim loại vĩnh cửu, và đêm nay, họ đã hoàn thành nghi lễ cuối cùng để trở về với sự bất tử.
Tác giả: EmoodziK
James Niggemeyer là vị cảnh sát đã ra tay hạ gục kẻ đã giết hại Dimebag Darrell và 3 nạn nhân khác tại buổi diễn của ban nhạc ở một hộp đêm tại bang Ohio năm 2004.
Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, James đã chia sẻ về diễn biến thay đổi vận mệnh của nhiều con người, trong đó có cả chính ông.
Ngày đó ban nhạc Pantera đã tan rã, Dimebag Darrell mới cùng ông anh Vinnie Paul lập nên một nhóm mới dưới cái tên Damageplan, phát hành album nhạc và thực hiện tour lưu diễn tại một số thành phố lớn ở Mỹ. Khi họ đặt chân đến Columbus, Ohio, vào ngày kỷ niệm 24 năm ngày mất của John Lennon, Nathan Gale – một cựu lính hải quân Mỹ đã đứng chờ ở đây.
Vì không kịp lên được chiếc xe buýt của ban nhạc, Gale mới di chuyển đến bãi đỗ xe của địa điểm diễn ra show và đứng lảng vảng suốt đó cả buổi tối, giống như mấy fan hâm mộ đang chờ gặp thần tượng. Nhưng khi buổi diễn của Damageplan bắt đầu, Gale mới nhảy qua hàng rào và chạy về phía sân khấu qua cửa bên.
Trong tích tắc, hắn đã mò lên được sân khấu, đi ngang qua tay bass Bob Kakaha, qua cả ca sĩ Pat Lachman và giàn trống của Vinnie Paul, tiến tới phía Dimebag và b8n thẳng vào đầu Dimebag ở cự ly gần bằng kh8u s1ng ngắn Beretta bán tự động. Đội trưởng đội an ninh của ban nhạc Jeffery Thompson và Erin Halk – một nhân viên tại đó đều bị Gale giết khi cả hai cố gắng giật lấy khẩu súng từ tay tên sát nhân. Nathan Bray – một fan của ban nhạc cũng chịu chung số phận khi cậu chạy lên sân khấu để thực hiện thao tác CPR cho Dimebag. Thêm bốn người khác bị Gale bắn nhưng may mắn thoát chết trước khi hắn bị James Niggemeyer triệt hạ.
Khi James nhận được cuộc gọi từ bộ đàm từ trung tâm vào khoảng 10h15 phút tối, ông cũng mới bắt đầu ca trực của mình và đang đi tuần gần hộp đêm đó. Trên xe của James có mang theo khẩu shotgun Remington 870. Chỉ có xe của ông và 1 xe nữa là được trang bị loại s1ng này vì khu vực tuần của họ ở vùng nông thôn nơi thường xảy ra các vụ tai nan do hươu va vào xe ô tô. Kh8u Remington 870 cũng là loại James dùng để đi săn từ khi mới 12 tuổi nên ông thuần thục nó hơn ai hết, và đó cũng là lý do James không dùng tới khẩu súng ngắn.
Là người nhận bộ đàm và ở gần điểm xảy ra vụ việc, James đến nơi đầu tiên, chỉ 3 phút sau cuộc gọi. Một số người mới chỉ cho ông đi theo lối cửa sau và James bắt gặp tên sát nhân đang giữ một người làm con tin, điều mà trung tâm không nhắc đến khi thông báo trong bộ đàm. Hắn 1 tay giữ nạn nhân làm con tin và 1 tay lia khẩu súng khắp nơi. Trong cuộc đời và sự nghiệp của James, ông có chứng kiến nhiều vụ thương vong nhưng chưa một lần ông trực tiếp tham gia ngay trong lúc sự việc đang diễn ra có thể gây nguy hiểm tính mạng cho nhiều con người như lúc này.
Xác và những người bị thương nằm la liệt trên sàn. Cụm từ "tunnel vision" / "tầm nhìn đường hầm" có thể coi đúng nghĩa đen đối với James lúc này bởi xung quanh ông hoàn toàn tối đen và đôi mắt của James chỉ tập trung vào đúng tên sát nhân và con tin. Thậm chí ông còn không nghe thấy những tiếng la hét của hàng trăm con người xung quanh đang tìm cách chạy khỏi hiện trường. Tất cả đều tĩnh lặng ngoại trừ tiếng súng phát ra từ kẻ ông đang nhắm tới.
Đã có một vài cảnh sát đến nơi và họ đi vào từ cửa chính gây chú ý với tên s@t nhân. Hắn ta liền dí s1ng thẳng vào đầu con tin. Nhân lúc hắn mải tập trung nhìn về phía mấy vị cảnh sát kia, James tiến vào sát hơn và khi ông chỉ cách hắn ta 6 mét, trực giác đã mách bảo ông lên đạn bắn hạ gục Nathan Gale ngay lập tức mà không lo ngại gây sát thương tới con tin đang bị hắn ghì chặt. Khi đó khẩu súng của Nathan vẫn còn tới 35 viên đạn.
Không ai biết rõ động cơ của Nathan Gale, một vài nhân chứng có nghe được hắn hét lên câu “Chính ngươi đã khiến Pantera phải tan rã” trước khi cuộc tàn sát diễn ra.
Chỉ mới vài phút trước đấy, Vinnie Paul và Dimebag Darrell còn đang tập dượt phía bên sân khấu và đều hứng khởi vì chỉ còn 2 show diễn nữa là hai anh em được về nhà đón Giáng Sinh và chuẩn bị cho album tiếp theo. “Van Halen”, “Van Halen”, đó là những lời cuối cùng hai người nói với nhau trước khi đập tay rồi lên sân khấu. 90 giây sau đó thì Vinnie đã không còn bao giờ được gặp lại Darrell nữa.
Cuộc đời của người anh hùng James Niggemeyer cũng không thể quay lại như cũ sau sự việc đó. Mặc dù ông nhận được hàng loạt email ủng hộ từ người hâm mộ của Pantera cũng như lá thư từ người mẹ của gã thủ phạm, chia sẻ sự cảm thông với chính James; bản thân ông vẫn luôn bị ám ảnh bởi việc ông phải lần đầu ra tay cướp đi mạng sống của một con người, dù đó là một tên sát nhân. James phải nhập viện vì những cơn hoảng loạn đến bật chợt và những cơn ác mộng vào mỗi đêm. Tình trạng đó kéo dài đến độ James phải nghỉ việc khỏi ngành cảnh sát nhưng chưa một lần trong đời ông cảm thấy hối tiếc.
Tác giả: James Mustaine
Trong thập niên 80, khi các ban nhạc Thrash Metal khoác lên mình những chiếc áo Jean, áo da đen tuyền, lủng lẳng đinh nhọn, để tóc dài rũ rượi và gầm gừ về cái chết, chiến tranh hay ác quỷ, thì Anthrax lại ngang nhiên bước lên sân khấu với... quần soóc bermuda sặc sỡ, áo thun in hình ván trượt và nhảy nhót điên cuồng với nụ cười nhếch mép. Bọn họ trông giống những tay chơi trượt ván đường phố phá bĩnh hơn là những tay chơi của thế giới kim loại. Nhưng đừng để cái vẻ ngoài bỡn cợt đó đánh lừa.
Ngay khoảnh khắc họ cắm jack đàn vào amply, thứ âm thanh dội ra là một khối bê tông nặng trịch giáng thẳng vào màng nhĩ. Anthrax không chơi Thrash Metal để hù dọa hay gieo rắc sự điên loạn, bọn họ chơi thứ âm nhạc bạo liệt này để kích động tất cả cùng lao vào nhau trong một cơn cuồng nộ đầy hưng phấn.
𝟏. 𝐓𝐡𝐞 𝐄𝐚𝐬𝐭 𝐂𝐨𝐚𝐬𝐭 𝐀𝐧𝐨𝐦𝐚𝐥𝐲: Kẻ đột biến bờ Đông
Lịch sử của Thrash Metal vốn được đóng đinh tại Bờ Tây nước Mỹ (California/Bay Area). Thánh địa đã nhào nặn nên cấu trúc đồ sộ của Metallica, ma trận của Megadeth và lưỡi cưa của Slayer. Thế nhưng, Anthrax lại là một "đứa con hoang" mang bộ gen đột biến được sinh ra ở Bờ Đông (New York). Chính cái môi trường trần trụi và xô bồ của đường phố New York đã tiêm nhiễm một dòng máu hoàn toàn khác vào hệ thống của ban nhạc: 𝐍𝐞𝐰 𝐘𝐨𝐫𝐤 𝐇𝐚𝐫𝐝𝐜𝐨𝐫𝐞 (𝐍𝐘𝐇𝐂).
Khác với nhịp điệu chạy thẳng tắp như một mũi khoan hay tốc độ băm bổ vô nhân đạo của Slayer, âm nhạc của Anthrax sở hữu độ nảy (Bounce) và cái Groove đặc trưng. Cấu trúc bài hát của họ chứa đầy những đoạn ngắt nhịp bạo lực, ép cơ thể người nghe phải giật cục theo từng nhịp đập.
Dù văn hóa Mosh vốn dĩ đã bắt nguồn và nảy mầm từ trong các câu lạc bộ Punk/Hardcore ngầm, nhưng giới kim loại nặng vẫn còn khá lạ lẫm với khái niệm này. Và rồi Anthrax xuất hiện. Bằng cách cấy ghép cái độ nảy kích động của Hardcore vào độ nặng ngàn cân của Thrash, Anthrax chính là những kẻ truyền giáo làm mới văn hóa chơi của Metal.
Thông qua bản thánh ca bất hủ 𝐂𝐚𝐮𝐠𝐡𝐭 𝐢𝐧 𝐚 𝐌𝐨𝐬𝐡 (𝐚𝐥𝐛𝐮𝐦 𝐀𝐦𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞 𝐋𝐢𝐯𝐢𝐧𝐠, 𝟏𝟗𝟖𝟕), họ đã bốc thuật ngữ "Mosh-pit" từ dưới lòng đất lên và phổ biến nó ra toàn thế giới. Bọn họ biến cảnh tượng hàng ngàn người húc vào nhau thành vòng tròn trở thành một nghi thức cuồng tín vĩnh cửu, một di sản bất diệt không thể thiếu tại bất kỳ một buổi biểu diễn kim loại nặng nào cho đến tận ngày nay.
𝟐. 𝐓𝐡𝐞 𝐑𝐡𝐲𝐭𝐡𝐦 & 𝐓𝐡𝐞 𝐕𝐨𝐢𝐜𝐞: Cỗ máy băm nhịp Scott Ian và Sự du dương dị biệt
Trái tim vận hành khối động cơ Groove của Anthrax không ai khác chính là gã trọc đầu để râu dê huyền thoại: 𝐒𝐜𝐨𝐭𝐭 𝐈𝐚𝐧. Nếu James Hetfield đánh Rhythm như một cỗ xe lu nghiền nát mọi thứ, thì bàn tay phải của Scott Ian lại hành động như một chiếc búa tạ liên tục gõ xuống một cái đe sắt. Bí quyết tối thượng của anh nằm ở kỹ thuật 𝐒𝐭𝐚𝐜𝐜𝐚𝐭𝐨 cực dứt khoát. Scott hiếm khi để các hợp âm ngân vang, anh chặn dây ngay lập tức sau mỗi cú gảy, tạo ra những âm thanh dày, cục súc và sắc lẹm.
Để chứng kiến thứ kỹ năng băm nhịp độc tôn này, hãy nghe câu Riff mở đầu lầm lì, nặng trịch tựa như những bước chân tử thần trong 𝐈 𝐀𝐦 𝐭𝐡𝐞 𝐋𝐚𝐰, hay đặc biệt là khúc breakdown bạo liệt "War Dance" trong ca khúc 𝐈𝐧𝐝𝐢𝐚𝐧𝐬. Ở những phân đoạn đó, tiếng đàn của Scott Ian thao túng không gian, ép nhịp của hàng vạn khán giả phải giật cục và đồng loạt chồm lên húc vào nhau theo đúng sự điều khiển của anh.
Và phía trên nền tảng nhịp điệu cục súc đó, Anthrax tung ra một vũ khí tạo nên sự tương phản dị biệt nhất giới kim loại: Giọng ca 𝐉𝐨𝐞𝐲 𝐁𝐞𝐥𝐥𝐚𝐝𝐨𝐧𝐧𝐚.
Thrash Metal vốn là sân chơi ngột ngạt của những cái gừ hằn học (𝐃𝐚𝐯𝐞 𝐌𝐮𝐬𝐭𝐚𝐢𝐧𝐞), tiếng gào thét man rợ (𝐓𝐨𝐦 𝐀𝐫𝐚𝐲𝐚) hay chất giọng hổ gầm (𝐉𝐚𝐦𝐞𝐬 𝐇𝐞𝐭𝐟𝐢𝐞𝐥𝐝). Joey gạt bỏ toàn bộ khuôn mẫu đó. Anh mang thứ kỹ thuật thanh nhạc cao vút, trong trẻo và du dương của Heavy Metal truyền thống (mang hơi hướm của 𝐁𝐫𝐮𝐜𝐞 𝐃𝐢𝐜𝐤𝐢𝐧𝐬𝐨𝐧 hay 𝐑𝐨𝐧𝐧𝐢𝐞 𝐉𝐚𝐦𝐞𝐬 𝐃𝐢𝐨) đặt thẳng vào giữa ma trận Thrash tốc độ cao.
Trên lý thuyết, sự chắp vá này nghe có vẻ lố bịch. Nhưng thực tế, tiếng hát bay bổng của Joey quyện vào tiếng đàn chát chúa của Scott Ian đã tạo ra một thứ "hợp kim" hoàn hảo, biến âm nhạc của Anthrax trở nên dễ nhớ, tràn đầy năng lượng và giải phóng người nghe khỏi sự tăm tối.
𝟑. 𝐓𝐡𝐞 𝐂𝐮𝐥𝐭𝐮𝐫𝐚𝐥 𝐂𝐫𝐨𝐬𝐬𝐨𝐯𝐞𝐫: Cú đập nát bức tường định kiến và Sự dung hợp lịch sử
Anthrax không chỉ phá vỡ ranh giới về mặt âm thanh, họ vạch ra một con đường hoàn toàn mới về mặt tư tưởng. Trong khi phần còn lại của thế giới kim loại đang mải mê viết về những chủ đề vĩ mô như chiến tranh hạt nhân, chính trị hay nghi lễ hiến tế, thì Anthrax lại ngạo nghễ kéo Thrash Metal về với văn hóa đại chúng (Pop Culture). Bọn họ không ngần ngại nhét niềm đam mê truyện tranh và tiểu thuyết kinh dị của mình vào các bản nhạc tàn khốc.
Cả một kiệt tác 𝐀𝐦𝐨𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞 𝐋𝐢𝐯𝐢𝐧𝐠 (𝟏𝟗𝟖𝟕) được lấy cảm hứng trực tiếp từ cuốn tiểu thuyết bối cảnh hậu tận thế The Stand của tác giả Stephen King, hay ca khúc nhịp búa tạ 𝐈 𝐀𝐦 𝐭𝐡𝐞 𝐋𝐚𝐰 chính là lời tri ân đầy bạo lực dành riêng cho nhân vật truyện tranh Judge Dredd. Bọn họ chứng minh một chân lý mới: Kim loại nặng không nhất thiết lúc nào cũng phải nhăn nhó và rao giảng đạo lý.
Nhưng cú nổ lớn nhất, sự kiện định hình lại toàn bộ cục diện âm nhạc hiện đại của Anthrax diễn ra vào năm 1991. Đó là khoảnh khắc Anthrax bước qua lằn ranh tử địa để bắt tay cùng nhóm nhạc Hip-hop huyền thoại 𝐏𝐮𝐛𝐥𝐢𝐜 𝐄𝐧𝐞𝐦𝐲, tái sinh ca khúc 𝐁𝐫𝐢𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞 𝐍𝐨𝐢𝐬𝐞.
Vào thời điểm đó, Rock/Metal (đại diện cho văn hóa của người da trắng) và Hiphop/Rap (đại diện cho người da màu) là hai thế giới đối nghịch gay gắt, đầy rẫy sự kỳ thị và hoài nghi. Sự hòa quyện sắc lẹm giữa tiếng Riff cưa máy gai góc của Scott Ian và nhịp điệu Rap dồn dập, gắt gỏng của Chuck D đã phá vỡ bức tường định kiến đó. Bọn họ vứt bỏ hoàn toàn nỗi sợ hãi bị giới bảo thủ dán nhãn "mất chất", để ngang nhiên khai sinh ra một công thức mới, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự tự do âm nhạc.
𝟒. 𝐓𝐡𝐞 𝐋𝐞𝐠𝐚𝐜𝐲: Di sản của những kẻ tiên phong
Khi đặt lên bàn cân lịch sử của "Big 4", Anthrax thường là cái tên phải hứng chịu nhiều ánh mắt hoài nghi nhất. Nếu chỉ nhìn vào những con số bề nổi, bọn họ bán được ít đĩa nhạc hơn đế chế đồ sộ Metallica, không sở hữu những ma trận cấu trúc kỹ thuật điên rồ như Megadeth, và tuyệt đối không mang màu sắc khát máu, tăm tối như cỗ máy chém Slayer.
Bằng việc ngoan cố đập nát những ranh giới bảo thủ của giới kim loại, Anthrax đã trở thành "kẻ gieo hạt" vĩ đại nhất cho các thế hệ tương lai. Chính cái thứ nhịp Groove nặng trịch của Scott Ian và cú bắt tay lịch sử chấn động với Hip-hop của họ đã trực tiếp dọn đường, tạo ra một "hiệu ứng cánh bướm" khổng lồ khai sinh ra toàn bộ đế chế 𝐍𝐮-𝐌𝐞𝐭𝐚𝐥 tàn phá thế giới vào cuối thập niên 90. Nếu không có những bước chân nổi loạn, dám bước qua lằn ranh tử địa của Anthrax ngày đó, lịch sử âm nhạc có lẽ sẽ chẳng bao giờ được chứng kiến sự trỗi dậy bạo liệt của những Korn, Limp Bizkit hay Slipknot sau này. Anthrax đã dũng cảm đưa thân mình ra hứng chịu những lời miệt thị "mất chất" từ những kẻ bảo thủ, chỉ để các thế hệ đàn em có được một vùng trời tự do phá bỏ mọi giới hạn âm thanh.
Anthrax vĩnh viễn ngồi chễm chệ trên chiếc ghế vương quyền của "Big 4", không phải vì họ tỏ ra vĩ mô như ba gã khổng lồ còn lại. Họ ở đó vì họ là nhịp đập trần trụi của đường phố. Bọn họ là những kẻ phá bĩnh ngạo nghễ, những vị vua của lằn ranh, chứng minh cho cả thế giới thấy rằng: Kim loại nặng dẫu có bạo liệt và tàn khốc đến đâu, thì bản chất tối thượng của nó vẫn là sự tự do tuyệt đối và không bao giờ bị giam cầm trong bất kỳ một nhà tù định kiến nào.
𝐉𝐚𝐦𝐞 𝐌𝐮𝐬𝐭𝐚𝐢𝐧𝐞